Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

December 10, 2007

Nguồn : Thời Đại Mới (TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN)

1. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

a. Quần đảo Hoàng Sa (tiếng Anh: Paracel Islands; tiếng Trung Quốc: Tây Sa (Xinsha)

Ở phía đông Tỉnh Khánh Hoà của Việt Nam và phía nam Đảo Hải Nam của Trung Quốc và phía Bắc của Quần đảo Hoàng sa.

Gồm 130 điểm đảo (bãi san hô phủ cứt chim) và đá (reefs) rất thấp, hầu hết ở mức 0 m hoặc thấp hơn mực nước biển, chỉ nổi lên khi biển rút. Điểm cao nhất là 14 m ở Đá/Hòn Thép (Rocky Island).

Cằn cỗi, gần như không có cây cối tự nhiên. Ít nhất 6 tháng một năm nóng và khô hạn, không có nước ngọt. Không có thường dân sinh sống vĩnh cửu. Không thể tự có đời sống kinh tế.

Tổng chu vi bờ biển của khu vực là 518km.

Toàn bộ khu vực không có đảo nào có diện tích lớn hơn 2.5 km² (1 sq mile).

Trong số điểm trong khu có 12 đảo nhỏ có tên trong đó có hai đảo tương đối lớn hơn là Hoàng Sa (Pattle island) ở nhóm Crescent Group (nhóm Tây) và Phú Lâm (Woody Island) ở Nhóm Amphitrite (nhóm Đông) đá ngầm (reefs).

.

b. Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung Quốc: Nam Sa (Nansha)

Ở phía Nam của Quần đảo Hoàng Sa.

Gồm hơn 100 đảo nhỏ (bãi san hô phủ cứt chim) và đá (reefs) rất thấp, hầu hết ở mức 0 m hoặc thấp hơn mực nước biển, chỉ nổi lên khi biển rút. Nơi cao nhất là 4 m.

Hiện nay 45 đảo/đá có lính của Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phi và Ma-lai-xi-a. Bru-nây đòi một phần biển đánh cá ở phía nam nhưng không đòi chủ quyền ở hòn đảo nào.

Tổng chu vi bờ biển của khu vực là 926 km

Bề rộng khu có đất nhỏ hơn 5 km² (tức là gấp đôi Hoàng Sa) rải rác trong khu vực biển rộng 410.000 km².

Không có đất có thể trồng cấy. Không có thường dân sinh sống vĩnh cửu. Không thể tự có đời sống kinh tế.

Đảo lớn nhất là Itu Aba (tên Việt: Đảo Ba Đình, tên Trung Quốc: Taiping) do Đài Loan chiếm 8 tháng 6 năm 1956, hiện trên đó có 600 lính. Có đài khí tượng, radio, hải đăng và sân bay dài 2km. Đài Loan chiếm 1 Đảo và 1 Đá.

Việt Nam chiếm đóng 7 đảo và 16 Đá và 3 Bãi. Đảo Song Tử Tây, Đảo Trường Sa trong quần đảo có chỗ cao từ 2.5-4.5m có trú quân và có đường băng máy bay ở Đảo Song Tử Tây.

Phillipine chiếm 7 đảo và 2 Đá hoặc Bãi.

Ma-lai-xi-a chiếm 7 Đá hoặc Bãi.

Trung Quốc chiếm 8 Đá, trong đó chiếm của Việt Nam bằng quân sự năm 1988 Đá Chữ Thập (Yonghu Jiao, hay Fiery Cross Reef) Đá Mischief của Phillipine (Phillipine cho là của họ, chỉ cách Tỉnh đảo lớn Palawan của Phi 130 dặm, tức là có thể coi là thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Phi). Trung Quốc đã đem vật liệu xây dựng Đá Chữ Thập thành một pháo đài quân sự có đường băng máy bay, có diện tích 8080 m², dài 14 dặm.

.

.

.

2. Tranh chấp chủ quyền Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vai trò của lịch sử

a. Quan điểm của Việt Nam

Được nhắc đến lần đầu tiên trong Phủ Lục Tạp Biên của Lê Quí Đôn năm 1776 và việc nhà nước Miền Trong của chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa đi kiểm hải vật tên quần đảo. Biên chế đội chỉ có 70 người, vừa phải cưỡng bức vừa thưởng quyền lợi vật chất để họ tham gia. Đội đi từ tháng 2 đến tháng 8 mới về. Hoạt động này được Lê Quí Đôn ghi từ 1702. Vua chúa Việt Nam gọi 2 nhóm đảo là Bãi Cát Vàng. Việc khám phá này là của sĩ quan hải quân Thibaud Ren Kergariou-Locmaria (1739-1795) năm 1787-1788.

Vua Gia Long tuyên bố chủ quyền năm 1816. Vua Minh Mạng năm 1933 theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên sai người dựng miếu, lập bia và trồng cây để dễ nhận ra đảo. Năm 1936 Minh Mạng sai làm địa bạ.

Bản đồ Đại thanh Đế quốc Toàn đồ xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910, chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến Hải Nam.

Ngày 8 tháng 3 năm 1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Pháp.

Ngày 23 Tháng 3 năm 1925, Pháp đặt Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Cho đến năm 1928 Chính phủ Trung Quốc không vẽ vào bản đồ quần đảo Trường Sa. Bản đồ chính thức chỉ có quần đảo này vào năm 1940.

Ngày 13 tháng 4 năm 1930, Pháp chính thức gửi tàu chiến chiếm đảo Trường Sa trong Quần đảo có cùng tên này. Báo chí Pháp đăng nhưng chính phủ không tuyên bố chính thức. Chính phủ Anh biết nhưng quyết định không phản đối. Chỉ có chính phủ Nhật chính thức phản đối vì coi nó là thuộc chủ quyền của Đài Loan thuộc Nhật. Nghe nói chính phủ Tưởng Giới Thạch tức giận nhưng không thấy phản đối chính thức.

Năm 1933, Pháp tuyên bố chính thức trên Công báo chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlys), và cho lập đài khí tượng trên Đảo Hoàng Sa (Pattle island) và sau đó đảo này thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hoà cho đến năm 1974. Không nước nào phản đối.

Ngày 4 tháng Giêng năm 1947, khi chiến tranh Pháp Việt bùng nổ ở Hà Nội, quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm Đảo Phú Lâm (Woody Island). Pháp phản đối. d’Argenlieu đưa tàu chiến Tonkinois định chiếm lại, thấy có 3 sĩ quan và 60 lính trên đảo, nhóm này kêu cứu, Chính phủ Tưởng ở Nam Kinh phản đối. Pháp không chiếm. Sau khi Trung Quốc kiểm soát lục địa năm 1949, họ cũng chiếm các đảo khác trên Quần đảo Hoàng Sa, trừ đảo Hoàng Sa thuộc Pháp, sau đó trao lại cho Việt Nam Cộng hoà.

Năm 1974, Trung Quốc gửi quân chiếm Đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam, kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Nguồn: Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline trên Modern Asian Studies, 40, 1 (2006), Lưu Văn Lợi, Cuộc Tranh chấp Việt –Trung về Hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội (1995).

.

b. Quan điểm của Trung Quốc (chủ yếu về Trường Sa)

Tác giả Yang Fu nhà Tây Hán (23-220 AD) đã nhắc đến Quần đảo Nansha (Nam Sa tức Trường Sa). Tướng hàng hải Kang Tai thời Đông Ngô (220-280 AD) cũng nhắm đến trong quyển sách của ông ta. Nhiều sách thời Đường, Tống, Nguyên cũng nhắc đến. Người Trung Quốc đã tới đánh cá và ở đó.

Thời Nhà Đường (785-805 AD), lúc đô hộ Việt Nam, đã ghi Nam Sa vào bản đồ Trung Quốc.

Bản đồ xuất bản thời nhà Minh có vẽ với tên Shitang (Thạch Đường), Changsa (Trường Sa).

Nhà Thanh năm 1710 xác định chủ quyền ở hai hòn đảo tận phía bắc khu Trường Sa và cho dựng một cái miếu trên North East Clay (Đảo Song Tử Đông hiện Phi Chiếm).

Năm 1909 Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh thám thính đảo Hoàng Sa

Năm 1912, ông Okura Unosuke, người Nhật, trong sách Stormy Islands (Đảo bão) viết “ông ta thấy ba người từ Haikou khi ông tới đảo Beizi (tên Mỹ, Northeast Cay, tên Việt, Đào Song Tử), đảo lớn thứ năm trong nhóm Trường Sa.

Năm 1821 Tổng đốc Lưỡng Quảng sát nhập Hoàng Sa vào Hải Nam, Pháp không phản đối.

Năm 1933, khi Pháp chiếm đóng các quần đảo Nansha, dân đánh cá Trung Quốc “sống và làm việc ở đó ngay lập tức kiên quyết kháng cự xâm lược và chính phủ Trung Quốc gửi phản đối mạnh mẽ tới chính phủ Pháp.

Năm 1939 khi Nhật chiếm đóng Biển Đông Nam Á, Chính phủ Trung quốc của Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm Cao ủy Xisha và Nansha (Tây sa và Nam Sa) tức là Hoàng Sa và Trường Sa.

· Năm 1943, Trung Quốc, Mỹ và Anh trong Tuyên bố Cairo đồng ý cho Trung quốc thu hồi đất đai của Trung Quốc do Nhật chiếm. Như vậy là Trung Quốc cho rằng họ có quyền thu Nansha (Nam Sa tức Trường Sa) và thế giới ủng hộ họ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc viết như sau: “Thật vậy, Mỹ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quấn đảo Nansha trong một lọat các hội nghị quốc tế và thực tiễn quốc tế.”

· Trung Quốc cho rằng là thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai viết là: “Việt Nam công nhận và ủng hộ Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc về lãnh hải” là công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.

Nguồn: China’s Ministry of Foreign Affairs, The Issue of South China Sea, June 2000, http://www.fas.org/news/china/2000/china-000600.htm

.

c. Thực tế

Trả lời của phía Việt Nam: Khi cả Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng đời nhà Đường thì không có nghĩa là Việt Nam và đất Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy [quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc] và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nha nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…” . Công hàm này không đả động đến đảo Hoàng Sa và Trường Sa do đó không có nghĩa như Trung Quốc kết luận vì về mặt quốc tế, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không phải là chính phủ có thẩm quyền với đảo, chỉ đại diện nhân dân miền Bắc, trong khi một phần Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa nằm trong quyền kiểm soát của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Và một lời tuyên bố đơn phương không có tính bó buộc ví nó không phải là Hiệp ước, dù ai đó coi CHXHCN Việt Nam là tiếp nối của Việt NamDCCH.

Trung Quốc cho là chính phủ Tưởng phản đối nhưng theo Stein Tonneson dựa vào báo cáo thời gian đó của Bộ Ngoại giao Pháp, chính phủ Trung Quốc không lên tiếng chính thức phản đối. Chính phủ Anh không hài lòng, bàn đến việc Pháp đem tàu chiến Malicieuse xác định chủ quyền ở Trường Sa ngày 13 tháng 4 nnăm 1930 nhưng quyết định không phản đối, vì theo tài liệu chính thức để lại, Anh cho rằng các đảo này quá nhỏ bé, không có giá trị gì. Cũng theo Tonneson không ai chống lại, nhưng Pháp báo cáo là cứu được 4 người Trung Quốc bị bỏ trên đảo hoang khỏi chết đói. Không có chuyện như Trung Quốc viết là: “dân đánh cá Trung Quốc “sống và làm việc ở đó ngay lập tức kiên quyết kháng cự xâm lược và chính phủ Trung Quốc gửi phản đối mạnh mẽ tới chính phủ Pháp.”

Chính phủ Mỹ chưa bao giờ công nhận Hoàng Sa và Trường Sa hay biển Đông Nam Á là của Trung Quốc. Coi phần quan điểm của Mỹ về Biển Đông Nam Á.

Nguồn: Từ Đặng Minh Thu, “Chủ Quyền trên Hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Thử Phân tích Lập Luận của Việt Nam và Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo Phát triển Khu vực Châu Á Thái Bình Dương và Tranh chấp Biển Đông Nam Á. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000. Xuất bản lại trên Thời Đại Mới số này.

.
.
.
.
.
.
3. Thong tin them

.

a. CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ

Toá án Công lý Quốc tế (The International Court of Justice) trong các vụ xử về tranh chấp lãnh thổ giữa Tây Ban Nha, Morroco và Mauritania (1975) đã dùng từ ngữ “chiếm đóng thật sự” (effective occupation) và khám phá (discovery) là yếu tố để xem xét chủ quyền, kể cả lịch sử phản đối các cuộc chiếm đóng bất hợp pháp. Một yếu tố luật pháp nữa cũng quan trọng trong việc xem xét chủ quyền là hành vi mặc nhiên chấp nhận hành động của phía bên kia vì không phản đối trong một thời gian nhất định (Estoppel by acquiescence).

Cùng với các yếu tố trên là quyền tự quyết dân tộc (self determination) ghi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc. Nghị quyết 1514 và 1541 năm 1960 đã làm sáng tỏ thêm quyền này. Nghị quyết 1514 cho là vi phạm Hiến chương “bất cứ một hình thức ngoại lại nhằm nô dịch, thống trị và bóc lột. ” “Mọi dân tộc có đều có quyền tự quyết, và trên cơ sở quyền này, họ có tự do quyết định thân phận chính trị và tự do theo đuổi phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá.”. Nghị quyết 1541 định nghĩa lãnh thổ thiếu quyền tự quyết là “lãnh thổ có địa lý cách biệt và khác biệt về dân tộc và hay là văn hóa với quốc gia chiếm đóng,” “bị bắt chấp nhận một cách tự tiện địa vị hay thân phận mang tính khuất phục với các yếu tố “hành chính, chính trị, pháp lý, kinh tế và lịch sử.”

Nếu một dân tộc bị mất lãnh thổ thì các chứng cớ về lịch sử như chiếm đóng thực sự và khám phá được đem xem xét. Nếu có dân cư trú vĩnh viễn ở đó thì có thể thực hiện hình thức trưng cầu dân ý cho quyền dân tộc tự quyết. Điều này dĩ nhiên không mang tính pháp lý như đã xảy ra với Tibet, bởi vì Toàn án Công lý Quốc tế chỉ xử nếu như quốc gia có tranh chấp đồng ý đưa ra xử.

Vấn đề hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều không có vấn đề dân tộc tự quyết vì không có lịch sử dân sống vĩnh viễn ở đó.
.

b. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển và vấn đề Biển Đông Nam Á

Luật Biển Liên Hợp Quốc ra đời năm 1982 có một số điều khoản liên quan đến đảo: nội thuỷ (internal water), lãnh hải (territorial sea), vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone (EEZ), thềm lục địa (continental shelf), vùng biển đóng (tức là vịnh hay biển nằm giữa nhiều quốc gia) và biên giới. Theo thông lệ đạt được từ thời tổng thống Mỹ Woodrow Wilson sau thế chiến I, quốc gia biển chỉ có toàn quyền đối với vùng biển cạnh bờ, tức là nội thủy (internal water) xa bờ không quá 3 hải lý [5.5 km], kể cả cấm các nước đi qua. Luật biển năm 1982 mở rộng sự công nhận chủ quyền, và đặc quyền kinh tế nhưng với bảo đảm quyền tự do đi lại. Một số điều quan trọng điều liên quan đến Biển Đông Nam Á gồm:

Điều 2: xác định là “chủ quyến áp dụng cho bầu trời trên vùng lãnh hải cũng như đáy biển và tầng đất phía dưới đáy biển.”

Điều 3: xác nhận “mỗi quốc gia có quyền xác định bề rộng của vùng lãnh thổ biển hay lãnh hải không quá 12 hải lý [22 km].”

Nhưng chủ quyền trên vùng lãnh hải bị hạn chế vì cần tôn trọng quyền tự do đi lại của nước khác.

Điều 17: xác định là “tàu biển [gồm cả tàu dân sự và quân sự] của tất cả các nước, có biển hay không có biển, được quyền tự do thông thương “ngây thơ” (right of innocent passage) qua vùng lãnh hải.” “Ngây thơ” có nghĩa là không gây tổn hại cho hoà bình, trật tự hay an ninh tốt cho quốc gia có biển, tức là không sử dụng, tập dượt võ khí, tình báo, nghiên cứu, làm ô nhiễm môi trường, đánh cá, ngăn cản thông thương. Trong trường hợp vì nhu cầu an ninh quốc gia cấp thiết, quốc gia có lãnh hải có thể ra lệnh tạm đình chỉ quyền tự do thông thương ở một địa điểm đặc biệt nào đó, vạch đường mà tàu có thể qua lại, đòi hỏi tàu ngầm phải đi trên mặt nước và mang cờ. Như vậy quyền tự do thông thương không những được phép ở vùng đặc quyền kinh tế mà cả ở trên lãnh hải, nhưng với một số hạn chế nhất định.

Điều 55 – 85 cho phép
các nước có lãnh hải có thêm Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone (EEZ)) rộng không quá 200 hải lý [370 km] tính từ đường cơ sở (baseline). Vùng EEZ cho phép quốc gia có biển “chủ quyền với mục đích thăm dò và khai thác, bảo vệ và quản lý tài sản thiên nhiên, là sinh vật hay phi sinh vật, trong nước, trên nước (superjacent to)” và thềm lục địa gồm “đáy biển, thuộc về đáy biển và tầng dưới đáy biển…” Nếu thềm lục địa kéo dài hơn thì vùng đặc quyền kinh tế có thể tăng lên tới 300 hải lý.

Điều 60 cho phép xây dựng các khu đảo, các cơ sở nhân tạo nhưng không được công nhận là đảo. Chúng không có lãnh hải, thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế riêng.

Điều 121 định nghĩa “đảo là vùng đất hình thành tự nhiên, bao bọc bởi nước và nằm cao hơn nước khi thuỷ triểu lên.” Đảo cũng có lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa như biên giới đất.

Điều 121 xác định “Đá (rocks), nơi không có khả năng kéo dài được việc cư trú (sinh sống) của con người và đời sống kinh tế riêng của nó, không được phép có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa…” Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf.

Quần đảo Hoàng Sa có 130 điểm hầu hết là bãi san hô, phủ cứt chim và đá, rất thấp, hầu hết ở mức 0m và chìm khi nước biển dâng cao. Có hai đảo tương đối lớn là Hoàng Sa (Pattle island) ở nhóm Crescent Group (nhóm Tây) và Phú Lâm (Woody Island) ở Nhóm Amphitrite (nhóm Đông), nhưng không có đảo nào lớn hơn 2,5km². Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa hiện nay nằm trong tay Trung Quốc.

Quần đảo Trường Sa ở phía Nam có 100 “đảo”, đá, bãi, đảo lớn nhất là Itu Aba (Đảo Ba Đình do Đài Loan chiếm từ 1956), có đất và diện tích không quá 5km2, dù có nhiều cây cối cũng khó lòng coi là đảo nếu dựa theo Luật Biển LHQ. Đất ở đây cũng như là các chỗ khác không thể trồng cấy, chưa bao giờ có thường dân sinh sống vĩnh cửu và không thể tự có đời sống kinh tế.

Vì những lý do trên, khi áp dụng Điều 121 của Luật Biển, khó có thể không đi đến kết luận khác hơn là hai quần đảo này gồm chủ yếu là các điểm đá (hoặc san hô phủ cứt chim) vì chúng “không có khả năng nuôi sống con người và đời sống kinh tế riêng của nó.” Các điểm đá được các nước xây dựng lên thành pháo đài, kể cả có sân bay thì theo điều 60 không được phép có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục điạ. Chúng chỉ có thể có vùng chủ quyền không quá 3 hải lý. Luật Biển hiện nay có thể nói là chưa rõ ràng về những vấn đề này, nên cũng có giới quan sát cho rằng một số có thể coi là đảo. Đây là vấn đề bàn cãi và nên để Toà Án Công Lý Quốc tế (The International Court of Justice) giải quyết nếu như các nước liên quan đồng ý cho toà xử. Trên cơ sở Luật Biển hiện nay, hoàn toàn là không thể chấp nhận được khi Trung Quốc coi là có chủ quyền trên toàn Biển Đông Nam Á.

Cho đến nay Quốc hội Mỹ vẫn chưa thông qua Luật Biển. Người đầu tiên chống là Tổng thống Ronald Reagan với hai lý do: 1) Luật cấm cản việc giao thông tự do vì các quốc gia gần biển có thể ra các điều kiện kiểm tra tàu quân sự, kể cả tàu ngầm Mỹ đi qua lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, 2) Mỹ đòi quyền tự do khai thác trên biển khơi (high sea). Điểm 1 đã được điều chỉnh do đó Tổng thống Clinton đã trình Thượng viện Mỹ ký năm 1994, nhưng nhóm bảo thủ của Đảng Cộng hoà nắm quyền ngăn cản không cho bàn. TT Bush nộp Quốc hội 2 lần, lần 1 (2004) và lần 2 (2005) cũng bị ngăn chận không cho bàn. TT Bush hiện sửa soạn trình lại vào năm 2007. Việc thông qua đòi hỏi 2/3 phiếu của Thượng viện. Luật Biển hiện nay quan trọng ngay với Mỹ, vì một nước là thành viên như Trung Quốc có thể lấy lý do là Mỹ không phải là thành viên, nên có thể không áp dụng luật với tàu chiến Mỹ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: