Entry for November 05, 2006

November 5, 2006

TQ hôm nay va ngày mai

Hôm nay lại ngồi đọc và mổ xẻ một chút về đất nước láng riềng TQ. Một đất nước có liên hệ mật thiết với VN cả trong lịch sử hiện tại và tương lai. Đất liền đất, sông liền sông, biển liền biển là những gì có thể nhìn thấy trên bản đồ. Nhưng trong văn hoá và lịch sử 2 nước cũng ko thể tách rời. Có phản động và ko yêu nước không khi nói rằng: VN là một bản sao của TQ trong văn hoá. Người VN có thể dễ dàng hiểu người TQ và ngược lại. Văn hoá khổng giáo đều phổ biến và thống trị ở 2 nước này trong 2 ngàn năm. Một ngàn năm đô hộ của phương Bắc ko phải là ít, ngôn ngữ và văn hoá là của TQ. Một ngàn năm độc lập và liên tục phải chiến đấu chống lại sự xâm lược của TQ, và cuối cùng thì VN cũng là một nước độc lập nhưng phải cống nạp sang vương triều TQ và là một nước nằm dưới trướng TQ.

Còn hôm nay, mình chỉ muốn biết về chính trị, văn hoá và kinh tế của TQ. Đặc biệt là kinh tế TQ, đó là vấn đề quan trọng nhất. Liệu sự phát triển của kinh tế TQ hiện nay sẽ ra sao trong tương lai? Liệu TQ có thể trở thành một cường quốc giống Mỹ hay hơn Mỹ? Liệu TQ có là một Liên Xô cũ đối trọng với Mỹ trong cuộc chạy đua cả về kinh tế và chính trị mới? Nếu có cuộc cạnh tranh mới thì nó là gì, ko phải là «chiến tranh lạnh» thì là «chiến tranh nóng» chăng? Một điểm nữa, political system của TQ hiện nay là gì? Communist vẫn lãnh đạo đất nước, nhưng ở đây có phải là communisme pure ko? Hay chỉ là vỏ bọc của một political system khác? Có nhiều câu hỏi về TQ mình cần phải trả lời được và trả lời một cách khách quan nhất có thể. Đơn giản cũng chỉ vì mình cũng khá thích TQ, chả biết vì sao thích. Nhưng mình muốn đến TQ chơi, và nếu có thể thì là hè năm sau. Đó cũng là lí do mình cần phải biết về TQ, hiểu TQ hơn.

Nếu nhìn lại quá khứ, mình thích TQ và cũng biết một chút về TQ qua những bộ film chiếu trên tivi. Điện ảnh TQ mình thích, nhiều film mình xem và mình ấn tượng. Một lí do đơn giản ngày ấy mình nghĩ vì nó đồng cảm với người VN, gần gũi với tâm tư suy nghĩ của người VN nên người VN dễ hiểu. Nền điện ảnh TQ ko chỉ nổi tiếng ở Châu á mà đã vươn tầm ra thế giới. Đất nước hơn 1 tỷ dân này luôn sản sinh ra những diên viễn tài năng, những đạo diễn tài năng. Hết thế hệ này đế thế hệ khác nối tiếp nhau phát huy truyền thống này. Đó cũng là một sức mạnh TQ mà ko ai có thể phủ nhận được. Nếu ngày xưa là HồngKông, kinh đô điện ảnh thứ 3 thế giới thì bây giờ là Trung Hoa lục địa. Film của TQ có những nét đặc trưng rất riêng, nhiều khi người phương Tây ko hiểu được. Nếu điều này được khắc phục thì film TQ sẽ vươn xa hơn trên thị trường thế giới. Có thể nói còn lâu lắm mới bằng Mỹ được, nhưng có thể đứng thứ 2 sau Mỹ cũng là quá thành công với TQ rồi.

1. TQ có phải là nước communisme ko? Thực chất thì political system ở TQ hiện nay là gì? Họ theo đuổi mục tiêu gì?

– Không còn là một nước cộng sản nữa. Tại sao? Ví dụ cụ thể:

  • Xoá bỏ quản lý tập thể, tập trung của communisme, tư hữu hoá và sắp xếp lại trật tự xã hội mà trước đây do nhà nước quản lý. Tức là chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung do nhà nước quản lý sang nền kinh tế cá thể, sở hữu cá nhân; từ hệ thống an sinh phúc lợi xã hội tới dịch vụ y tế tư nhân và trường học tư cho những kẻ có tiền.
  • Tuy những thay đổi về cơ cấu xã hội và nền kinh tế như vậy nhưng political system thì vẫn giữ nguyên và duy trì như cũ: đó là một chính quyền tập trung dưới sự lãnh đạo của communisme. Các chính sách và đường lối do ĐCS trung ương ở Bắc Kinh đưa ra vẫn là kim chỉ nam cho những chính sách hành động của các thành phố và nông thôn trên toàn nước TQ. Chính phủ lo sợ sự mất ổn định trong nước lên vẫn ko ngừng tăng cường kiểm soát chính trị. Tuy nhiên, ta phải công nhận một điều rằng: chính phủ communisme của TQ đã lới lỏng nhiều trong vấn đề tự do ngôn luận và phát ngôn chính trị: họ có thể lờ đi những phát biểu theo chiều hướng ngược lại, chỉ trích và cho phép được tụ họp. Tuy nhiên, chỉ khi những phát ngôn trên trở lên nguy hại thực sự thì họ mới cấm cản. Điều này thì VN vẫn chưa làm được.

- Mục tiêu họ theo đuổicủa TQ hiện nay:

  • «Làm giàulà vinh quang» (Đặng Tiểu Bình).
  • Tìm mọi cách để làm tăng trưởng vượt bậc nền kinh tế: với chính sách ngoại giao lấy thương mại làm trọng tâm. Ví dụ quan hệ kinh tế với các nước Châu Phi.
  • Mở rộng tầm ảnh hưởng cả về kinh tế lẫn chính trị nên các nước khác trên thế giới.

- Những hậu quả của việc kinh tế phát triển chóng mặt mà politic thì thay đổi ko theo kịp là gì?

  • Là ở khu vực thành thị sầm uất, con người trở lên vật chất hoá và đầy tham vọng.
  • Văn hoá tập thể nhường chỗ cho văn hoá mạnh ai lấy sống.
  • Hố sâu ngăn cách giàu nghèo ngày càng lớn.
  • Giới thanh niên ngày nay giàu có, tự do hơn lớp ông cha. Nhưng có một tầng lớp người nghèo mới: đó là những người mất đi sự bảo trợ của nhà nước mà vẫn chưa bắt kịp hay hoà nhập vào nền kinh tế thị trường. Rồi tầng lớp nông dân ngày càng nghèo so với người ở thị thành. Hai tầng lớp này ngày càng trở lên tức giận và bất mãn với xã hội, với chính quyền. Đó là một nguy cơ vô cùng to lớn của xã hội TQ trong tương lai. Một nguy cơ nữa cũng xuất phát từ tầng lớp trung lưu, trí thức, được tiếp xúc với nền văn minh democratic nước ngoài (giống các nước Phương Tây trước đây là tầng lớp bourgeois) là họ đòi cải cách hệ thống chính trị là ko thể cưỡng lại được

- Chính sách tạo «chính danh quyền lực» (political legitimacy) mới ở TQ sau vụ Thiên An Mônra sao? Hay cách tạo thương hiệu mới về chính trị (brand diffirentiation) như thế nào? Để duy trì quyền lực thì chính phủ TQ đã tiến hành làm những việc như sauđể «tiếp thị mặt hàng mới về chính trị TQ»:

  • Họ luôn đề cao bảo đảm ổn định chính trị và duy trì sự tăng trưởng về kinh tế: Họ bảo rằng họ có thể làm được điều này qua hệ thống hành chính (administration) (là hành chính gì thì ai cũng biết) và họ có kỹ thuật «techniques) để thành công (đó là technique gì thì ai cũng biết). Thông qua ổn định và phát triển kinh tế thì những điều «tốt đẹp» khác cũng sẽ đến (như democracy, là tự do trong ngôn luận, là tự do trong suy nghĩ, là nationalisme, nâng cao uy tín đất nước, nâng cao uy tín dân tộc, nâng cao tinh thần ái quốc, etc). Lập luận này có ý gì? Có mục đích gì? Đó là bảo với dân chúng rằng: đừng có mà dại dột thay đổi political system như những nước Đông Âu (hay giống như vụ Thiên An Môn trước đây), nó chả tốt đẹp gì đâu, nó chỉ dẫn đến những kịch bản xấu và kết quả khôn lường mà thôi. Rồi cứ phát triển kinh tế đi, làm giàu đi, rồi thì mọi thứ tốt đẹp khác từ từ sẽ đến.
  • ĐCS ko còn rêu rao như thời Mao là nhất là số một là vinh quang nữa. Mà ĐCS gợi ý rằng ĐCS mà cầm quyền thì ai cũng có lợi. Để chứng minh ai cũng có lợi mà ko cần cải tổ chính trị thì chính phủ cũng thỉnh thoảng nặng tay trừng trị những quan tham nhũng.
  • Nâng cao hình ảnh vị trí của ĐCS trong quá khứ: khi đặt ĐCS đối lập với Quốc Dân Đảng trong khứ. Rằng ĐCS TQ đã xoá nỗi nhục quốc thể khi TQ bị phương Tây xâm chiếm cuối thế kỉ 19.
  • Biện pháp cuối cùng, cùng với việc kể «một câu chuyện chính trị mới» như trên là những chính sách dùng bạo lực chấn át những ý kiến phản đối, chống đối, phê phán lại ĐCS.

=> Kết quả sau những nỗ lực tiếp thị hình ảnh mới của TQ là gì?

  • Thanh niêm thì lao vào làm ăn, phát triển/cải cách kinh tế và quên đi việc đấu tranh như thời Thiên An Môn.
  • Nảy sinh những mâu thuẫn và vấn nạn mới: một bộ phận dân chúng bị bỏ ra bờ xã hội vì ko còn bảo trợ của nhà nước (đó là những công nhân mất việc): đã ko tin vào chính phủ và tiến hành biểu tình. Rồi nông dân (dó là người nông dân mất ruộng) cũng biểu tình.
  • Mâu thuẫn trong khẩu hiệu: để người dân biểu hiện tinh thần nationalist (ví dụ trong vụ Mỹ thả nhầm bomb xuống ĐSQ TQ ở Belgrade 1999) thì có nguy cơ biểu tình lan rộng ko kiêm soát được và sẽ dẫn đến bất ổn. Như vậy thì nảy sinh mâu thuẫn: muốn có ổn định thì ko thể «nảy sinh những cái mới» như tinh thần yêu nước được. Mà đây là một trong những khẩu hiệu tiếp thị của chính phủ TQ.
  • Cạnh tranh sự thật: ĐCS TQ cho đến bây giờ vẫn là đảng phái duy nhất độc quyền lẽ phải ở TQ. Nhưng một giáo phái «Pháp Luân Công» đang nổi lên ở TQ cạnh tranh về sự độc quyền lẽ phải này. Giáo phái Pháp Luân Công có tổ chức chặt chẽ và đặc biệt họ nói về sự thật tối thượng (ultimate truths).
  • Sự lúng túng hay «tự bó tay bó chân» của ĐCS TQ khi mà quá nhấn mạnh vào «ổn định chính trị». Một loạt vấn đề nóng bỏng của XH họ ko biết phải giải quyết ra sao vì thực ra thì mọi vấn đề đều tiềm ẩn những bất ổn trong đó. Điều này dễ hiểu thôi vì chẳng có cái gì là an toàn tuyệt đối (giống ĐCS TQ mong muốn cả). Mở cửa kinh tế, đón luồng gió mới thì phải chấp nhận trong luồng gió ấy có cả lũ muỗi v ove nữa. Để người dân bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc thì phải để họ được nói được tự do ngôn luận, nhưng nó sẽ tiềm tàng những kẻ lợi dụng sự tự do này để mưu cầu việc xấu. Nhưng ko vì vài con muỗi vo ve mà đóng cửa lại, cũng như ko thể vì sợ một số người xấu mà cẩm tất cả mọi người khác được. Đó là sự lúng túng mà ĐCS TQ chưa tìm được câu trả lời và những «tiếp thị hình ảnh mới» cũng ko giải quyết được. Một ví dụ đơn giản để thấy, ở Pháp, có một điều luật đơn giản thôi nhưng giải quyết được khá nhiều vấn đề, đó là «những gì ko cấm trong luật thì anh được làm». Nhưng ĐCS TQ ko bao giờ dám đưa câu này vào luật. Vì có những điều ở TQ, ko cấm trong luật nhưng cũng ko được làm. Đó là quy định rồi.

2. Nền kinh tế TQ hiện nay đứng ở vị trí nào? Tại sao TQ có sự phát triển vượt bậc như vậy? Có những chính sách gì và thay đổi gì từ chính phủ? Trong tương lai thì kinh tế TQ thế nào?

-Sức mạnh kinh tế nằm ở đâu?

  • Đó là nguồn thành phần hàng hóa rất rẻ;
  • Phân tán và tỷ lệ tiết kiệm rất cao (Mức tiết kiệm quốc gia của Trung Quốc là 40% GDP, mức tiết kiệm trong hộ dân chúng là 25%. Cả hai đều đạt mức cao bậc nhất thế giới), chứ không chỉ đơn giản là tỷ giá tiền gắn chặt với đôla Mỹ.

-Problems của TQ:

  • Hoạt động ngân hang bất hợp lí: tập trung nguồn vốn vào cho các doanh nghiệp nhà nước vay ưu đãi. Điều này tạo ra hiện tượng phí phạm đầu tư vốn. Để đạt đầu ra 1 đôla, Trung Quốc phải đầu tư 5 đôla, tức ra quá cao so với mức quốc tế.
  • Mức tiết kiệm trong dân chúng rất cao cũng chứng tỏ người ta phải làm như vậy để phòng khi ốm đau, già cả do hệ thống an sinh xã hội và hưu trí rất tệ. Nhưng hậu quả là tiền trong dân không được tái đầu tư và mức cầu nội địa không tăng như ý muốn của các nhà kinh tế. Nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thị trường bên ngoài
  • Toàn bộ hệ thống ngân hàng và tín dụng của Trung Quốc cũng phải cải tổ mạnh, nếu không thị trường chứng khoán không hoạt động tốt được. Tình trạng giảm giá chứng khoán trong vài năm qua khiến các nhà đầu tư nước ngoài hoảng sợ khi nhìn vào thị trường này ở Trung Quốc. Về dài hạn, vì thế thị trường chứng khoán Trung Quốc gần như không còn khả năng thu nhận thêm nguồn vào mới.

TQ là một con nợ lớn của Mỹ và do đó dù 2 nước này có hục hặc thì cũng ko thể sống thiếu nhau được. Việc TQ mua một công ty dầu khí lớn ở Mỹ và mua các công ty lớn ở Châu á khiến nhiêu người lo ngại. Một sự ko công bằng đằng sau vụ mua bán này là: công ty của TQ có sự hậu thuẫn của nhà nước, còn bên kia chỉ là công ty tư nhân. Và nhiều người cảnh bảo với chính phủ các nước phải tăng cường bảo hộ của nhà nước nhằm tránh sự ko công bằng này.

GDP (purchasing power parity): $8.883 trillion (2005 est.)

GDP (official exchange rate): $2.225 trillion (2005 est.)

GDP – real growth rate: 10.2% (official data) (2005 est.)

GDP – per capita (PPP): $6,800 (2005 est.)

GDP – composition by sector:

  • agriculture: 12.5%
  • industry: 47.3%
  • services: 40.3%

note: industry includes construction (2005 est.)

Labor force: 791.4 million (2005 est.)

Labor force – by occupation:

  • agriculture: 49%
  • industry: 22%
  • services: 29% (2003 est.)

Unemployment rate: 9% official registered unemployment in urban areas in 2004; substantial unemployment and underemployment in rural areas; an official Chinese journal estimated overall unemployment (including rural areas) for 2003 at 20% (2005 est.)

Population below poverty line: 10% (2001 est.)

Household income or consumption by percentage share:

  • lowest 10%: 2.4%
  • highest 10%: 30.4% (1998)

Distribution of family income – Gini index: 44 (2002)

Inflation rate (consumer prices): 1.8% (2005 est.)

Investment (gross fixed): 44.4% of GDP (2005 est.)

Budget:

  • revenues: $392.1 billion
  • expenditures: $424.3 billion; including capital expenditures of $NA (2005 est.)

Public debt: 24.4% of GDP (2005 est.)

Agriculture – products: rice, wheat, potatoes, corn, peanuts, tea, millet, barley, apples, cotton, oilseed; pork; fish

Industries: mining and ore processing, iron, steel, aluminum, and other metals, coal; machine building; armaments; textiles and apparel; petroleum; cement; chemicals; fertilizers; consumer products, including footwear, toys, and electronics; food processing; transportation equipment, including automobiles, rail cars and locomotives, ships, and aircraft; telecommunications equipment, commercial space launch vehicles, satellites

Industrial production growth rate: 29.5% (2005 est.)

Electricity – production: 2.19 trillion kWh (2004)

Electricity – consumption: 2.17 trillion kWh (2004)

Electricity – exports: 10.6 billion kWh (2003)

Electricity – imports: 1.546 billion kWh (2003)

Oil – production: 3.504 million bbl/day (2004)

Oil – consumption: 6.391 million bbl/day (2004)

Oil – exports: 340,300 bbl/day (2004)

Oil – imports: 3.226 million bbl/day (2004)

Oil – proved reserves: 18.26 billion bbl (2004)

Natural gas – production: 35.02 billion cu m (2003)

Natural gas – consumption: 33.44 billion cu m (2003 est.)

Natural gas – exports: 2.79 billion cu m (2004)

Natural gas – imports: 0 cu m (2004)

Natural gas – proved reserves: 2.53 trillion cu m (2004)

Current account balance: $160.8 billion (2005 est.)

Exports: $752.2 billion f.o.b. (2005 est.)

Exports – commodities: machinery and equipment, plastics, optical and medical equipment, iron and steel

Exports – partners: US 21.4%, Hong Kong 16.3%, Japan 11%, South Korea 4.6%, Germany 4.3% (2005)

Imports: $631.8 billion f.o.b. (2005 est.)

Imports – commodities: machinery and equipment, oil and mineral fuels, plastics, optical and medical equipment, organic chemicals, iron and steel

Imports – partners: Japan 15.2%, South Korea 11.6%, Taiwan 11.2%, US 7.4%, Germany 4.6% (2005)

Reserves of foreign exchange and gold: $825.6 billion (2005 est.)

Debt – external: $252.8 billion (2005 est.)

Economic aid – recipient: $NA

Currency (code): yuan (CNY); note – also referred to as the Renminbi (RMB)

Exchange rates: yuan per US dollar – 8.1943 (2005), 8.2768 (2004), 8.277 (2003), 8.277 (2002), 8.2771 (2001)

3. Trong quân sự thì TQ hiện nay đứng ở đâu? Kế hoạch tới ra sao?

-Tăng cường quân sự với sự đầu tư vào quân sự ngày càng tăng.

-Là nước có bomb nguyên tử.

4. Trong đối ngoại thì sao? Đài Loan sẽ ra sao? VN sẽ ra sao?

– Một câu chuyện lịch sử khá buồn cười về ĐL và TQ như sau: Khi Tưởng Giới Thạch cùng đội quân nationalist của ông bị thua communisme ở lục địa và phải lánh nạn sang hòn đảo ĐL. Khi đó cả ĐL và TQ đều có mặt trong ONU rồi nhưng chỉ dưới tên một dân tộc là China. Tưởng Giới Thạch và sau này cả con trai ông ta đều cho rằng TQ và ĐL là một và có tên là China, và đất nước 1 tỷ dân lục địa là thuộc ĐL và sớm hay muộn thì ĐL cũng sẽ quay lại chiếm TQ. Một câu chuyện thật nực cười vì một ĐL chỉ có 20 triệu dân lại là nước mẹ của một nước TQ hơn 1 tỷ dân. Nhưng ngày ấy chuyện tuyên bố như vậy cũng chả có vấn đề gì vì ĐL phát triển khá mạnh tại thời điểm ấy. ĐL giàu mạnh vì có sự di cư mang theo một lượng lớn capital của Tưởng Giới Thạch từ lục địa sang và sự trợ giúp của Mỹ nữa. Như vậy, ĐL hiện này là một trong rất rất ít nước ko có tên trong ONU và rất nhiều nước ko công nhận sự tồn tại của ĐL (VN cũng ko công nhận sự tồn tại của ĐL dù hoạt động kinh doanh và buôn bán với ĐL vẫn diễn ra bình thường).

Một điều đã thay đổi, hiện nay ĐL với ban lãnh đạo mới, có tư tưởng mới và khá democratic đã tuyên bố: ĐL là ĐL và TQ là TQ, hai nước riêng biệt. ĐL cũng chả còn tư tưởng tiến đánh TQ nữa, mong muốn hai nước yên ổn làm ăn sinh sống. Tiêc là TQ bây giờ ko còn là TQ của ngày xưa. TQ ngày xưa im lặng trước những tuyên bố của ĐL thì nay họ làm ngược lại: họ bảo ĐL là một phần lãnh thổ của TQ và họ sẽ quyết tâm lấy lại ĐL. Quả thật theo thời gian mọi sự thay đổi, ko ai biết trước được.

5. Vậy tính cách người Hoa thế nào, và lý do nào nằm sau sự thành công của họ?

-Tại sao người Hoa thành công trên đất khách quê người như vậy?

-Tại sao người Tàu malin và giỏi kinh doanh? Đó là truyền thống lâu đời hay do đâu?

-Người Tàu có dễ bị dẫn dắt ko? Tại sao communisme lại có thể tồn tại ở TQ được?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: