Lịch sử thành phố Grenoble

October 17, 2006

Lịch sử thành phố Grenoble

http://membres.lycos.fr/grenoble2000/hist/hist.html

Những nghiên cứu về lịch sử của Grenoble ngày càng trở nên khó khăn, bởi vì thành phố hiện nay đã mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây. Khu trung tâm thành phố hiện nay nằm trên nền đất cổ của Grenoble xưa. Những dấu tích về nền văn minh đầu tiên của thành phố xuất hiện từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, được tìm thấy ở khu vực toà án cũ (palais du justice).

Chuyện kể rằng….Ngày xửa ngày xưa……Vào độ khoảng thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, có một nhóm người tên là Allobroges, thuộc tộc người Celtes, sinh sống dọc sông Isère . Từ thủa ấy, thành phố mang tên là Culora.

Người La Mã, dưới sự lãnh đạo của Lucius Munatius Plancu, đã đánh chiếm Culora vào năm 43 trước công nguyên. (Truyền thuyết còn lưu lại rằng người La Mã đã xây một cây cầu bắc ngang sông Isère chỉ trong vòng một ngày.) Vào cuối thế kỷ thứ ba, họ còn xây dựng những bức tường thành rất vững trãi xung quanh Cularo.

Cularo vào thời điểm đó chỉ là một thị trấn nhỏ nằm dưới sự kiểm soát của Vienna (ngày nay là Vienne). Đến năm 380, hoàng đế La Mã là Gratien, trong lúc ghé thăm thành phố, đã cho sửa sang lại những bức tường thành và xếp Cularo vào hạng thành quốc (cité).

Để tỏ lòng biết ơn hoàng đế, thành phố đã đổi tên thành Gratianopolis, theo tiếng hy lạp có nghĩa là « thành phố của hoàng đế Gratien » ( « poli » nghĩa là ville). Từ đó mà ra đời tên Grenoble như hiện nay.

Nằm ở nơi giao nhau của ba thung lũng, Grenoble là một địa điểm chiến lược rất quan trọng, thường xuyên có quân đội đồn trú ( thậm chí đến tận những năm 30 của thế kỷ 20 này) và cũng thường xuyên bị kẻ thù tấn công. Còn khi thành phố không bị huỷ hoại bởi chiến tranh thì cũng thường bị những đợt lụt khủng khiếp của hai con sông phá huỷ những công trình xây dựng.

Vào năm 524, tộc người Burgondes có nguồn gốc german, đến sinh sống ở vùng Dauphiné, đến năm 582 thì họ bị tộc người Francs đuổi ra khỏi lãnh thổ.

Vào năm 574, người Lombards đến vây hãm Grenoble. Họ cướp bóc những vùng lân cận của thành phố. Khi không chiếm được thành phố thì họ đã bỏ chạy, nhưng bị quân đội của thành phố đuổi bắt rồi huỷ diệt.

Vào thế kỷ thứ 8 và thế kỷ 9, người Sarrasins chiếm miền Đông Nam của nước Pháp. Nhưng, họ không để lại bất cứ dấu tích nào ở thành phố.

Vào khoảng năm 1030, một đức tổng giám mục của Vienne đã nhượng một phần đất của mình, chính là Grenoble hiện nay, cho một lãnh chúa địa phương tên Guiges de la maison d’Albon. Vị lãnh chúa này đã mở rộng lãnh địa của mình. Lãnh địa được mở rộng mãi cho đến tận khoảng năm 1130 thì trở thành vùng Dauphiné. Một câu hỏi luôn được đặt ra, đó là tại sao hình ảnh một con cá heo lại được lấy làm biểu tượng và đặt tên cho vùng đất…..Câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Thế kỷ thứ 10 là một giai đoạn chứng kiến nhiều biến động chính trị của thành phố và vùng Dauphiné. Những giáo sĩ mà trước đây đã đồng tình với sự độc lập và sự ra đời của vùng Dauphiné thì nay lại ghen tị với sức mạnh của lãnh chúa. Thế là suốt cả thế kỷ này, người vùng Dauphiné và người của nhà thờ đấu tranh liên tục với nhau để chiếm ưu thế đối với thành phố. Dần dần, lớp giáo sĩ mất quyền lực, đành phải chịu lép vé trước thế lực của lãnh chúa.

Vào thế kỷ 14, người Do Thái bị sua đuổi khỏi nước Pháp, vùng Dauphiné đã dang tay đón tiếp họ. Sự giàu có và khả năng khéo léo của người Do Thái đã gây ganh ghét cho nhiều người. Vào năm 1348, dịch hạch huỷ hoại thành phố, người Do Thái bị kết án là nguồn gốc của bệnh tật và bị mang ra dàn thiêu.

Ngay từ năm 1242, đã có một hiến chương đảm bảo cho người Grenoble quyền tự do trong việc quản lý một phần của thành phố ( phòng vệ, đón tiếp khách…). Người dân có quyền bầu ra những người quản lý hành chính hoạt động dưới sự giám sát của lãnh chúa Dauphiné và đức giám mục. Sự độc lập của người Grenoble ngày càng tăng. Cụ thể vào năm 1340, lãnh chúa Humbert 2 đã thành lập hội đồng vùng Dauphiné. Vào khoảng năm 1346, cũng chính vị lãnh chúa này đã sáng lập trường đại học đầu tiên ở Grenoble. Ông đã đóng góp rất nhiều cho việc phát triển thành phố : giúp đỡ người nghèo, sửa sang các công trình….Tuy nhiên, cũng chính ông đã làm khánh kiệt vùng Dauphiné bởi những chi phí đổ vào các cuộc thánh chiến. Khi trở về từ Jérusalem, một phần do tiêu tán sạch tài sản, một phần mất vợ và phần vì không có con cái nối dõi, nên, lãnh chúa Humbert 2 đã bán vùng Dauphiné cho vua nước Pháp là Philippe 6 vào năm 1349. Từ đó, tước hiệu Dauphin mà trước đây được dùng để chỉ các lãnh chúa của vùng Dauphiné thì bây giờ được dùng để chỉ người con cả của vua, tức là thế tử. Điều này cũng đánh dấu sự chấm dứt độc lập của vùng Dauphiné…..

Vào năm 1446, thế tử, người sẽ là vua Louis 11 sau n
ày, đến định cư ở Grenoble. Vào năm 1453, thế tử cho đặt nghị viện của vùng Dauphiné ở Grenoble. Thành phố trở thành một trong ba thành phố duy nhất có nghị viện của nước Pháp. Thế tử đã phát triển thành phố đến mức mà vua nước Pháp lúc đó là Charles 7 còn phải ghen tị với con trai mình, nên, đã phái lính đến chiếm lại lãnh thổ. Ngài thế tử trẻ đã phải chạy trốn. Nhưng, khi thế tử trở thành vua thì chính ông lại huỷ bỏ điều lệnh quy định vùng Dauphiné được cai trị bởi con cả của vua. Từ đó, Grenoble thuộc vĩnh viễn dưới sự cai trị của vua nước Pháp…..

Vào đầu thế kỷ 16, các cuộc thánh chiến với nước Ý đã buộc binh lính của nhà vua phải trú ngụ ở Grenoble. Phí để bảo dưỡng quân đội rất nặng. Dịch hạch lại tiếp tục hoành hành. Vì vậy mà thành phố lại trở nên kiệt quệ nặng nề.

Vào năm 1590, sau 4 lần cố gắng không thành công, bá tước vùng Lesdiguières (người đạo tin lành) đã chiếm được thành phố lúc đấy đầy rẫy người nghèo đói và bệnh tật. Ông đã vựng lại Grenoble qua việc thiết lập lại luật pháp và tài chính, cho xây dựng các toà nhà, các điểm phòng ngự, cầu, đường….

Vào khoảng năm 1606, nhờ vào sự trợ giúp của vùng Lesdiguières, Grenoble từ một thành phố còn ít được biết đến đã trở nên rất nổi tiếng. Trong cuộc cách mạng, đến một phần ba người dân của thành phố dù làm việc từ xa hay gần cũng nỗ lực duy trì sự nổi tiếng này.

Grenoble đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của nước Pháp. Đây là một trong những cái nôi của cách mạng. Vốn là thành phố có nghị viện từ lâu đời, nên, khi vua muốn giảm bớt quyền lực của nghị viện, người dân đã phản đối rất kịch liệt. Các nghị viện viên cũng ra sức phản đối, thế là vua giải tán chính thức nghị viện. Người dân Grenoble bèn xuống đường biểu tình ( trong suốt « ngày ngói » – jourée des tuiles – nổi tiếng, từ trên các mái nhà, người Grenoble đã ném những viên ngói xuống lính triều đình đi dưới đường) ; vua đành đầu hàng và nghị viện được mở lại….đấy chính là những cú nảy đầu tiên của cách mạng nước Pháp.

Ngày 7 tháng 3 năm 1815, Napoléon đã đến cửa thành Grenoble. Ông chuẩn bị vũ lực và ra đi 2 ngày sau để đến Lyon, rồi về Paris. Hoàng đế đã nói : « Khi đến Grenoble, ta chỉ là một kẻ viễn du, khi ra đi ta là một người chiến thắng ».

….Rồi vào tháng 6, Napoléon bị đánh bại ở trận Waterloo. Quân Áo vào đến cửa thành phố mà không gặp gần như bất cứ sự chống cự nào. Người dân đã cầm vũ khí để đối đầu với kẻ thù. Cuối cùng thì sau một trận chiến hoàn toàn không cân sức, kẻ thù đã chiếm được thành phố và lưu lại đây trong 5 tháng.

Thế kỷ 19 khai trương một thời kỳ phát triển thịnh vượng của nền công nghiệp thành phố, bao gồm các ngành sản xuất `ci-mĠ?ng, găng tay, giấy và luyện kim….Nhờ vào sự phát hiện ra than trắng (Houille Blanche) bởi Aristide Bergès mà vào cuối thế kỷ này các con phố đã được thắp sáng bằng điện và các ngành công nghiệp được cung cấp thêm năng lượng. Lúc này, thành phố phát triển rất mạnh. Để không kìm hãm sự phát triển của thành phố, người ta đã phá huỷ một bộ phận các bức tường thành để xây dựng những quảng trường mới và những đường phố mới…..

Vào năm 1914, đại chiến lần thứ nhất bùng nổ. Ngành công nghiệp phục vụ cho chiến tranh trở nên rất thịnh vượng. Những người đi săn vùng Alpes, được mệnh danh là những con Quỷ Xanh, trở nên đặc biệt nổi tiếng. Họ được coi là những người lính bất bại chiến đấu trên mọi mặt trận và được lấy làm biểu tượng cho cuộc sống trong quân đội của thành phố.

Chiến tranh kết thúc và Paul Mistral lên giữ chức thị trưởng của thành phố. Ông đã đưa ra những dự án xã hội đồ sộ và phát triển thành phố. Ông cũng là người có sáng kiến về triển lãm quốc tế về than trắng và du lịch vào năm 1925.

Ngày 22 tháng 6 năm 40, quân đội Đức bị giữ chân ở Voreppe. Trong suốt 4 ngày, quân đội Pháp đã cố thủ được ở vị trí của mình, và gây tổn hại nặng nề cho quân địch. Ngày 24, quân Đức ra chiến thuật tấn công rộng rãi, nhưng cũng bị giữ chân, mặc dù chiếm ưu thế về số lượng (5 chọi 1), và về vũ khí ( có loại tối tân nhất thế giới). Ngày 25 tháng 6, nước Pháp ra lệnh ngừng bắn, người Đức vẫn chưa vào được vùng Dauphiné. Phải đến năm 1942 thì Grenoble mới bị quân Đức chiếm đóng.

Quân đồng minh đổ bộ vào bắc Phi. Để bảo bảo vệ lãnh thổ của mình, quân Đức đã chiếm một nửa nước Pháp vào tháng 11 năm 1942. Từ đó, các lực lượng kháng chiến đóng vùng tại dải Vercors hoạt động rất rộng rãi. Từ hoạt động còn rải rác, tổ chức kém và đôi khi cạnh tranh lẫn nhau, các lực lượng kháng chiến để trở nên đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Chavant, Chavellet, Scholkow, Martin, Valois….Lực lượng kháng chiến của Grenoble được xếp vào một trong những loại tích cực nhất của nước Pháp. Và cũng vì vậy mà sự trả đũa của quân Đức cũng được xếp vào một trong những loại khủng khiếp nhất…..

Ví dụ điển hình là, chiến sỹ quân kháng chiến Aimet Requet đã một mình làm nổ tung kho chứa đạn dược của quân Đức. Để trả thù, binh lính Đức đổ xuống đường và bắn bất cứ người nào rơi vào tầm ngắm của chúng…..

Vào giữa tháng 11 năm 1943, sau một loạt hoạt động bắt bớ, tra tấn để truy tìm thông tin thì quân Đức đã bắt và giết những người lãnh đạo đầu não của quân kháng chiến Grenoble. L
c lượng kháng chiến bị suy yếu nặng nề, nhưng, vẫn chưa bị tiêu diệt.

Nói về Grenoble thì không thể không nói về dải Vercors. Vào tháng 6 năm 44, tất cả các lực lượng kháng chiến được lệnh phải chiến đấu để phá huỷ tổ chức của quân thù và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổ bộ của quân Đồng Minh. Quân kháng chiến trú ngụ ở Vercors đã tăng gấp 10 lần hoạt động và vì nghĩ rằng sẽ nhận được viện trợ về người và súng đạn từ London và Alger, nên, đã dồn hết sức vào một trận cuối cùng. Để diệt tận gốc cuộc nổi dậy này, quân Đức đã phái lực lượng tinh nhuệ nhất : số lượng tăng gấp 10 lần và trang bị tốt hơn 100 lần…..Nhưng, viện trợ đã không bao giờ đến nơi, những chiến sĩ kháng chiến đã chiến đấu đến tận hơi thở cuối cùng để giữ chân quân thù. Chính vì vậy, sau này, người dân vùng Vercors đã kết tội De Gaulle và quân Đồng Minh đã phản bội lời hứa gửi viện trợ và để mặc họ chiến đấu đương đầu với cái chết. Với những người anh hùng và những người hy sinh vì lý tưởng như vậy, dải Vercors trở nên một trong những nơi quan trọng chứng kiến cao trào kháng chiến của nước Pháp. Quân đội Đức cũng hiếm khi nào dã man như vậy trong các cuộc tấn công.

Tuy nhiên, các chiến sĩ kháng chiến đã không hy sinh vô ích, các đội quân của kẻ thù điều động đến dải Vercors đã không thể cản bước tiến công của quân Đồng Minh đến giải cứu. Thật vậy, vào ngày 15 tháng 8 năm 1944, quân đồng minh đã đổ bộ vào vùng Provence. Lực lượng kháng chiến hoạt động mạnh mẽ đến mức mà chỉ sau 6 ngày sau thì Grenoble đã được giải phóng. Trong vòng 3 tháng, quân đồng minh đã đổ bộ được khoảng 100 km ở vùng Normandie. Khi quân Mỹ vào đến Grenoble vào sáng ngày 22 thì thành phố đã được giải phóng bởi những người du kích chiến đấu tự do, chính họ đã đánh đuổi quân Đức cuối cùng ra khỏi thành phố vào đêm ngày 21 sang ngày 22.

Grenoble đã được nhận dấu thập vì sự nghiệp giải phóng. Trong suốt những năm bị chiếm đóng từ tháng 11 năm 42 đến tháng 8 năm 44, đã có hơn 700 chiến sỹ bị xử bắn, khoảng từ 2 ngàn đến 3 ngàn người bị đi đày, trong đó hơn 1500 người chết trên đường đi đày và hơn 500 người lính du kích tự do chết trong chiến đấu.

Minhchau from www.aevg.fr

at http://www.aevg.fr/forums/index.php?showtopic=2245&hl=

1. Trước khi đổi tên từ Gratianopolis thành Grenoble , thì Grenoble còn có một tên nữa là Gragnavol , em rất thắc mắc không hiểu nó có nghĩa như thế nào, gắn với bối cảnh lịch sử ra sao …tại sao trong bài dịch này của minhchau không thấy nhắc đến nhỉ ?

– Chuyện về cái tên của Grenoble cũng khá hay ho. Khởi nguồn là cái tên Gratianopolis (thành phố của vua Gratien), qua bao thăng trầm của lịch sử, cái tên dài ngoằng này đã được rút ngắn dần, ngắn dần và cuối cùng thành Grenoble. Cái tên Gragnavol cũng chỉ là một trong số vài cái tên trung gian trong quá trình tiến hóa này mà thôi.

– Sau cuộc cách mạng văn hóa Pháp năm 1789, khoảng năm 1790 đến 1795, tên thành phố Grenoble còn bị đổi thành Grelible. Tại sao lại bị đổi tên như vậy? Lý do giống như ở VN mình thôi, khi mà cuộc cách mạng thành công. Những cái gì thuộc thành phần quí tộc, địa chủ (noble) đều bị đánh đổ, bị triệt tiêu hết. Chính vì thế, tại sao lại là Grenoble, thế là có noble trong đấy rồi. Cái từ noble được đổi thành lible và chúng ta có cái tên Grelible. Cái tên này tồn tại khoảng 5 năm, khi mà tinh thần hòa hợp hòa giải đã lên cao. Thành phố lại được trở về với cái tên thân yêu Grenoble cho đến tận ngày nay.

2. Chuyện kể rằng….Ngày xửa ngày xưa……Vào độ khoảng thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, có một nhóm người tên là Allobroges, thuộc tộc người Celtes, sinh sống dọc sông Isère . Từ thủa ấy, thành phố mang tên là Culora. Người La Mã, dưới sự lãnh đạo của Lucius Munatius Plancu, đã đánh chiếm Culora vào năm 43 trước công nguyên. (Truyền thuyết còn lưu lại rằng người La Mã đã xây một cây cầu bắc ngang sông Isère chỉ trong vòng một ngày.) Vào cuối thế kỷ thứ ba, họ còn xây dựng những bức tường thành rất vững trãi xung quanh Cularo. Cularo vào thời điểm đó chỉ là một thị trấn nhỏ nằm dưới sự kiểm soát của Vienna (ngày nay là Vienne). Đến năm 380, hoàng đế La Mã là Gratien, trong lúc ghé thăm thành phố, đã cho sửa sang lại những bức tường thành và xếp Cularo vào hạng thành quốc.

– Thêm một chút về lịch sử của Grenoble nằm trong Dauphiné nhé. Những dấu tích khảo cổ sự tồn tại và sinh sống của bộ tộc người Allobroges và sau đó là Cularo đang được trưng bày trong musée de l’Ancien Evêché, bên dưới cạnh sườn của Notre Dame. Ai muốn đi xem thì xuống bến Notre Dame của tramway và nhìn sang bên cạnh là thấy liền. Đây là 1 trong 3 musée commun của Grenoble nên gratuit.

– Cularo nằm dưới sự kiểm soát của VIENNE, nhưng mọi người nên chú ý rằng Vienne đây ko phải là thà
nh phố
Vienne bên Áo hiện nay đâu. Vienne là một thành phố lớn, sầm uất do người Romain xây dựng, ở cách thành phố Lyon 50 km về phía Nam. Hiện nay, cái tên Vienne này vẫn còn. Nếu ai đã từng học tập ở Lyon chắc chắnn đã nghe đến cái tên này. Và hiện nay ở Vienne, có một khu khảo cổ mới (nói mới nhưng cũng hơn chục năm rồi) được khai quật và thành musée cho mọi người đến xem, nó rất nổi tiếng. Có thể nói rằng, sự quí giá của khu khảo cổ này chỉ đứng sau Rome bên Italia thôi.

3. Vào khoảng năm 1030, một đức tổng giám mục của Vienne đã nhượng một phần đất của mình, chính là Grenoble hiện nay, cho một lãnh chúa địa phương tên Guiges de la maison d’Albon. Vị lãnh chúa này đã mở rộng lãnh địa của mình. Lãnh địa được mở rộng mãi cho đến tận khoảng năm 1130 thì trở thành vùng Dauphiné. Một câu hỏi luôn được đặt ra, đó là tại sao hình ảnh một con cá heo lại được lấy làm biểu tượng và đặt tên cho vùng đất…..Câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Tại sao lại gọi là Dauphiné?

– Không có cái gì là chắc chắn cả, nhưng có một giả thuyết khá thuyết phục và được mọi người chấp nhận rộng rãi. Đó là, trong quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Dauphiné này, có một vị lãnh chúa tên là Delfino. Ngày ấy, vùng đất Dauphiné này ko nói tiếng Pháp như hiện nay mà dùng một thổ ngữ giống với tiếng Italien. Delfino là tên tiếng Italien, mà khi chuyển sang tiếng Pháp có nghĩa là Dauphine (cá heo). Và cái tên của vùng đất do vị lãnh chúa Delfino này cai quản được gọi là Delfino và sau đó được Pháp hóa ra thành Dauphiné.

– Symbole của Dauphiné là hình chú cá heo.

– Symbole của thành phố Grenoble là hình 3 bông hoa hồng, tượng trưng cho évéque, seigneur và consul.

4. Ngay từ năm 1242, đã có một hiến chương đảm bảo cho người Grenoble quyền tự do trong việc quản lý một phần của thành phố ( phòng vệ, đón tiếp khách…). Người dân có quyền bầu ra những người quản lý hành chính hoạt động dưới sự giám sát của lãnh chúa Dauphiné và đức giám mục. Sự độc lập của người Grenoble ngày càng tăng. Cụ thể vào năm 1340, lãnh chúa Humbert 2 đã thành lập hội đồng vùng Dauphiné. Vào khoảng năm 1346, cũng chính vị lãnh chúa này đã sáng lập trường đại học đầu tiên ở Grenoble. Ông đã đóng góp rất nhiều cho việc phát triển thành phố : giúp đỡ người nghèo, sửa sang các công trình….Tuy nhiên, cũng chính ông đã làm khánh kiệt vùng Dauphiné bởi những chi phí đổ vào các cuộc thánh chiến. Khi trở về từ Jérusalem, một phần do tiêu tán sạch tài sản, một phần mất vợ và phần vì không có con cái nối dõi, nên, lãnh chúa Humbert 2 đã bán vùng Dauphiné cho vua nước Pháp là Philippe 6 vào năm 1349. Từ đó, tước hiệu Dauphin mà trước đây được dùng để chỉ các lãnh chúa của vùng Dauphiné thì bây giờ được dùng để chỉ người con cả của vua, tức là thế tử. Điều này cũng đánh dấu sự chấm dứt độc lập của vùng Dauphiné…..

Vào năm 1446, thế tử, người sẽ là vua Louis 11 sau này, đến định cư ở Grenoble. Vào năm 1453, thế tử cho đặt nghị viện của vùng Dauphiné ở Grenoble. Thành phố trở thành một trong ba thành phố duy nhất có nghị viện của nước Pháp. Thế tử đã phát triển thành phố đến mức mà vua nước Pháp lúc đó là Charles 7 còn phải ghen tị với con trai mình, nên, đã phái lính đến chiếm lại lãnh thổ. Ngài thế tử trẻ đã phải chạy trốn. Nhưng, khi thế tử trở thành vua thì chính ông lại huỷ bỏ điều lệnh quy định vùng Dauphiné được cai trị bởi con cả của vua. Từ đó, Grenoble thuộc vĩnh viễn dưới sự cai trị của vua nước Pháp…..

Grenoble hay cụ thể là Dauphiné chính thức thuộc về nước Pháp (la France) bắt đầu từ bao giờ? Tớ chỉ xin góp thêm vài ba ý mà tớ biết mà thôi.

– Từ trước cho đến thế kỉ thứ 14 (khoảng năm 1350), vùng đất Dauphiné này là một quốc gia độc lập, ko thuộc la France mà cũng ko thuộc Italie ngày ấy. Tuy nhiên, vùng đất Dauphiné này nghèo, ko được mạnh và giàu có như các anh em láng giềng bên cạnh mình như la France va l’Italia.

– Ai đã từng xem film “kingdom of heaven” cũng đều biết một chút về các cuộc thập tự chinh (croissade) đến miền đất thánh (Jerusalem) của người christien để đánh đuổi bọn đạo hồi đang chiếm đóng Jerusalem. Vị lãnh chúa cuối cùng của Dophiné (tớ ko nhớ tên, chả biết có phải ông Humbert mà minhchau nói ở trên ko nữa) cũng đã muốn phát động một cuộc thập tự chinh tương tự đến miền đất thánh.

Tại sao ông ấy lại muốn làm một cuộc thập tự chinh như vậy? Lý do rất đơn giản, các cuộc thập tự chinh tuy lấy khẩu hiệu là đánh đuổi bọn đạo hồi khỏi Jerusalem, nhưng thực chất là đến để cướp bóc của cải mang về. Trong vòng 150 năm trời mà có khoảng 15, 16 các cuộc croissade, và một trong số những cuộc thập tự chinh gay cấn và nổi tiếng nhất đó đã được tái hiện lại trong film “kindom of heaven” này.

Vị lãnh chúa của của Dophiné muốn làm một cú đến Jerusalem để có thể đem về nhiều củ
a cải, biến đất nước mình trở thành hùng mạnh có thể cạnh tranh được với la
France và Italia bên cạnh. Tuy nhiên, cũng phải biết rằng, để tiến hành các croissade thì cần nhiều tiền để thuê binh lính và mua lương thực. Vị lãnh chúa này đã vay của la France rất nhiều tiền (he he he, hơi ngu vì bị lừa). Nhưng tiếc rằng, vị lãnh chúa đã ko gặp may, trên đường thập tự chinh bị đói, bị bệnh tật và cuối cùng ông ta đã ko đến được vùng đất thánh như mong muốn và phải quay về. Đâu phải 100 cuộc croissade đều thành công cả 100 đâu.

Trở về với 2 bàn tay trắng, vợ và con trai thì chết, nợ lần chồng chất. Thế là vị lãnh chúa thân yêu của vùng Dauphiné chúng ta đang sống đã quyết định bán đất nước mình cho la France chỉ với 2 điều kiện bèo bọt:

1. La France cung cấp tiền cho ông ấy sống đến cuối đời trong 1 monastère.

2. Đứa con trai cả của vua La France phải đổi tên thành Dauphiné.

Thế là từ 1350, Dauphiné trở thành một phần của nước Pháp.

5. Ngày 7 tháng 3 năm 1815, Napoléon đã đến cửa thành Grenoble. Ông chuẩn bị vũ lực và ra đi 2 ngày sau để đến Lyon, rồi về Paris. Hoàng đế đã nói : « Khi đến Grenoble, ta chỉ là một kẻ viễn du, khi ra đi ta là một người chiến thắng ».

….Rồi vào tháng 6, Napoléon bị đánh bại ở trận Waterloo. Quân Áo vào đến cửa thành phố mà không gặp gần như bất cứ sự chống cự nào. Người dân đã cầm vũ khí để đối đầu với kẻ thù. Cuối cùng thì sau một trận chiến hoàn toàn không cân sức, kẻ thù đã chiếm được thành phố và lưu lại đây trong 5 tháng.

– Đây cũng là một dấu ấn khá thú vị trong lịch sử Grenoble và của vùng Dophiné nói chung. Tại sao Napoléon lại đi qua Grenoble?

– Khi Napoléon bị bại trận và bị giam giữ ở Ile d’Elbe (gần Marseille). Sau vài năm, người dân ở thành phố Paris cảm thấy tiếc thời hoàng kim Napoléon xưa nên đã rất mong muốn Napoléon trở về. Naploéon khi đó đang ở trên đảo Ile d’Elbe cũng quyết định quay về Paris theo nguyện vọng của người dân.

– Nhưng từ Marseille để đi đến Paris, theo như địa hình và đường xá thì thường sẽ phải đi qua Vienne (cái thành phố nhỏ cách Lyon 50km đã nhắc đến ở trên), rồi Lyon, rồi tiếp đến Paris. Chứ ko ai vòng qua Grenoble cả.

– Tại sao Napoléon lại chọn đi qua Grenoble mà ko đi con đường bình thường. Cụ thể là bỏ đường lớn ko đi, lại chọn con đường núi hiểm trở mà đi như vậy? Lý do là vì, vùng đất Grenoble ngày ấy ko thuộc thành phần royalist cho lắm, ko mặn mà gì với vua mới cả. Còn trên con đường lớn, kẻ thù rất nhiều. Chính vì thế, Napoléon đã chọn con đường nhỏ mà đi.

– Vua Pháp đương thời (Louis 18.) đã cử một vị tướng tên là Marechal Ney (1815) đến chặn đường Napoléon ở cổng vào Grenoble (nghe như tam quốc diễn nghĩa ấy nhỉ?). So sánh lực lượng thì quân của Napoléon ít quá, ko là gì so với quân đội nhà vua Louis cả. Nhưng khi đứng trước đạo quân lớn mạnh hơn mình rất nhiều, Napoléon đã tỏ rõ bản lãnh là nhà quân sự và vị tướng dũng mãnh kiêu hùng. Napoléon đã đi lên đầu hàng, và nói “ta là vua nước Pháp đây, nếu các ngươi muốn giết vua thì hãy xông lên giết đi”. Thế là toàn bộ quân lính triều đình bỏ vũ khí và theo Napoléon luôn, cả vị tướng Marechal Ney cũng vậy. Sau đó, đạo quân này còn cũng Napoléon tiến đến tận Paris.

– Napoléon đã lưu lại ở Grenoble một đêm trong một cái auberge. Cái auberge này vẫn tồn tại đến tận bây giờ với cái tên Auberge de Naponéon. Cái restaurant này nằm gần jardin de ville. Nếu ai có nhiều xiền (nhớ là nhiều nhiều chút) thì vào đó thưởng thức xem sao. Cái restaurant này khá đắt.

6. Thế kỷ 19 khai trương một thời kỳ phát triển thịnh vượng của nền công nghiệp thành phố, bao gồm các ngành sản xuất `ci-mĠ?ng, găng tay, giấy và luyện kim….Nhờ vào sự phát hiện ra than trắng (Houille Blanche) bởi Aristide Bergès mà vào cuối thế kỷ này các con phố đã được thắp sáng bằng điện và các ngành công nghiệp được cung cấp thêm năng lượng. Lúc này, thành phố phát triển rất mạnh. Để không kìm hãm sự phát triển của thành phố, người ta đã phá huỷ một bộ phận các bức tường thành để xây dựng những quảng trường mới và những đường phố mới…..

Một chút về kinh tế của Grenoble:

– Trước 1850, Grenoble chỉ là thành phố bé nhỏ, đìu hiu phố núi. Kinh tế ko có gì đáng nói, người dân sống nghèo khổ.

– Từ sau 1850, Grenoble vươn mình đứng dậy, thành một thành phố sôi động và phát triển. Có thể nói, thành phố Grenoble phát triển công nghiệp được là nhờ cái houille blanche (thủy điện) mà ra cả. Sau đó, grenoble nổi tiếng với các nhà máy sản xuất gant tay da, quần áo vải synthese và nilon (vật liệu hiện đại thời đấy). Cũng có cái mỏ than ngày xưa ở “chemin de la mur”, nhưng giá khai t
hác thì đắt đỏ hơn nhập khẩu nên đã bị đóng cửa rồi. He he he, có phải tại thời đó Pháp sang VN khai thác than rồi trở về Pháp quốc ko nhỉ?

– Từ 1985, tình hình kinh tế thay đổi ko ngừng. Các nhà máy lớn sản xuất gant rồi đồ may mặc bị đóng cửa vì giá nhân công cao. Sản phẩm ko thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu được. Grenoble dưới sự lãnh đạo tài ba đã chuyển sang ngành high technology (`hi-tech`). Cho đến thời điểm hiện nay, grenoble vẫn đang là trung tâm nghiên cứu cũng như khu công nghiệp công nghệ cao hàng đầu của Pháp. Thế mới biết, làm kinh tế và lãnh đạo phải dám thay đổi và có cái nhìn sắc bén. Sẵn sàng đoạn tuyệt với cái cũ để xây dựng cái mới. Điều này, nhiều thành phố khác của Pháp ko làm được và đã trở thành những thành phố “chết”. Có thể lấy ví dụ điển hình là cái Vienne ở gần Lyon đó. Cách đây 50 năm; đây là thành phố công nghiệp ko kém gì Grenoble cả. Vậy mà bây giờ nó đìu hiu, chết chóc quá. Các nhà máy đều đóng cửa nhưng lại ko tìm ra hướng đi mới cho mình như grenoble.

7. Vào năm 1914, đại chiến lần thứ nhất bùng nổ. Ngành công nghiệp phục vụ cho chiến tranh trở nên rất thịnh vượng. Những người đi săn vùng Alpes, được mệnh danh là những con Quỷ Xanh, trở nên đặc biệt nổi tiếng. Họ được coi là những người lính bất bại chiến đấu trên mọi mặt trận và được lấy làm biểu tượng cho cuộc sống trong quân đội của thành phố.

Grenoble anh hung?

– Tớ chả dám nhận xét rằng người grenoble có anh hùng hơn các thành phố khác ko, nhưng chắc là cũng anh hùng qua bản dịch của bạn minhchau ở trên.

– Tớ chỉ muốn nói thêm về hình ảnh “những con quỷ xanh” mà tớ biết mà thôi. Nếu mọi người vào parc Paul Mistral chơi, sẽ thấy có 2 cái đáng chú ý. Thứ nhất là cái tháp cao tít, tròn tròn xây bằng xi mang. Đây là cái tháp được xây dựng cách đây hơn 100 năm rồi, trong một exposition để chứng minh rằng: có thể xây dựng các tòa nhà và tháp cao tầng bằng vật liệu xi măng và thép (lúc ấy được coi là vật liệu xây dựng mới). Và cái tháp ấy được coi là một bằng chứng hùng hồn nhất. Thứ hai, là một cái monumen có hình anh chiến sỹ với dòng chữ “diable bleu” – nó chính là để tưởng niệm nhũng con quỷ xanh đấy.

– Tại sao lại là diable bleu? Bởi vì, cho đến thời điểm ấy, quân du kích bình thường vẫn mặc trang phục màu đỏ hay trắng (cho nó đẹp he he he). Tuy nhiên, nếu thế này mà đánh du kích thì trốn được ai chứ. Thế là những người lính du kích của vùng Verco đã biết thiết kế loại quân phục xanh có vằn (hình như tiếng việt gọi là áo dằn di thì phải). Với trang phục màu xanh này, có thể lẩn vào trong rừng dễ dàng mà ko bị phát hiện (nhất là dùng cho cách đánh du kích). Bọn phát xít Đức vô cùng tức giận mà ko làm gì được nên chỉ biết gọi họ là “diable blue”.

8. Bài dịch của Minh Châu hay quá, hàng ngày đi qua nào Chavant, palais du justice… giờ thì biết nó là gì rồi

Danh nhân và phố phường :

– Hubert Dubedout (station, place): cái chỗ đổi tramway A và B là “Hubert Dubedout” thì là ai thế nhỉ? Hubert Dubedout là vị thị trưởng đầu tiên của Grenoble đấy.

– N.Chavant: (station) là đội trưởng đội lính du kích chống phát xít.

– Gambetta (rue): là vị première ministre của Pháp trong giai đoạn năm `1865-1870`. Gambetta là một cái tên Italien có nghĩa là petite jambe. Vị P.M này có một điểm đặc biệt là: năm 1871, khi cuộc chiến Pháp – Đức lần 1 vào hồi gay cấn, quyết liệt. Quân Đức đã tiến gần đến Paris rồi, vị P.M đã chạy khỏi Paris trên một …. quả kinh khí cầu.

– Alsace-Loraine (boulevard, station): đây là 2 tỉnh nằm ở biên giới Pháp – Đức và có một lịch sử khá thú vị. Trong cuộc chiến lần 1 (`1870-1871`): Đức thắng, Pháp thua. Thế là Đức tịch thu 2 tỉnh Alsace và Loraine thành của Đức. Trong cuộc chiến lần 2 (chính là đại chiến thế giới lần 1): Pháp là kẻ thắng trận và Đức thua, thế là Pháp đòi lại 2 tỉnh Alsace và Loraine này. Đến cuộc chiến lần 3 (đại chiến thế giới lần 2) thì ban đầu Đức thắng: nó lấy lại 2 tỉnh Alsace và Loraine này. Nhưng đến cuối cuộc chiến (nắm 1945) thì Đức thua trận, Pháp lại đòi lại 2 tỉnh Alsace và Loraine này. Như vậy trong vòng có hơn 60 năm mà 2 tỉnh Alsace và Loraine đã được trao đi trao lại giữa Đức và Pháp đến … 4 lần. Vậy là để tương nhớ sự kiện lịch sử này, nhiều thành phố ở Pháp thường lấy cái tên này đặt cho đường phố hay station chẳng hạn.

Verdun (station): đây là tên của bãi chiến trường nằm cạnh Nancy (phía đô`ng-bẠ?c pháp, gần biên giới Đức). Nơi đã diễn ra cuộc chiến kịch liệt và đẫm máu giữa Pháp và Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Quân Pháp đã thắng, nhưng cả 2 bên thiệt hại đến 1 triệu người. Để tưởng nhớ chiến thắng này, thế là có station Verdun ở trước Prefecture.

– Victo Hugo (station, place): chắc là ai cũng biết.

– Albert 1er de Belgique (station): Có nghĩa là con trai cả của vua Belgique (thái tử – prince) và sẽ trở thành vua sau này. Cái tên này chỉ có ý nghĩa thế thôi, chứ ko chỉ đích danh một ông vua hay một thái tử nào cả. He he he, chắc lại muốn nịnh đầm vua từ khi còn chứng nước đây.

– Saint Bruno (station): là tên c
a thánh Bruno thôi.

9. Cuối cùng, tớ xin recommand bà con đi xem 3 cái musée commun của grenoble để hiểu thêm về thành phố thân yêu này. Cả 3 cái đều gratuit cả.

1. Musée de dauphiné: ở dưới chân Bastil: nó giới thiệu về lịch sử skie và cuộc sống của người dân grenoble trong khoảng 200 năm đổ lại đây.

2. Musée tranh (musée de grenoble): cực đẹp, cực to và hoành tráng. Đứng thứ 3 hay sao ấy trên toàn nước Pháp.

3. Musée L’Ancien d’Evêché: có những khảo cổ học về thời cách đây 2000nam, 5000 năm của vùng grenoble và isere.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: